Menu

Giấc mơ của cát

11:46 07/11/2016

pno
Qua rồi ký ức buồn của cát cháy. Bây giờ, cả bão cát cũng đành nhường chỗ cho bến đỗ bình yên,...

Qua rồi ký ức buồn của cát cháy. Bây giờ, cả bão cát cũng đành nhường chỗ cho bến đỗ bình yên, khi những nóc nhà máy như trái tim xanh giữ nhịp hồi sinh cho bao khát khao đời cát...

“Dạ, em quê Tam Hiệp, ở ngay đây mà, mà răng anh biết đây là trảng Bà Mù?”. Tôi không trả lời, chỉ cười, nhìn vết dầu và bụi táp lên áo Khương, phó quản đốc xưởng hàn của nhà máy ô tô bus. Tiếng máy cắt thép, lửa điện, mùi sắt bị hơi nóng từ mỏ hàn cắt ra, những thanh sắt rơi loảng xoảng chát chúa đóng vào tai như cố trượt qua, chỉ còn lại những lạo xạo như hụt hơi của lưỡi dao sắt chạy hết tua cuối cùng rồi dừng hẳn, như vết xước tướp máu rát bỏng khi cát chà lên da thịt.

Trong vô vàn những hình ảnh cứ trượt dài, chồng lên qua năm tháng, thì mỗi lần ngang qua đây, hay ai nhắc lại chuyện chi đến cát, tôi lại nhớ chuyện đó, nhớ những chuyến ra đi vì không trụ nổi với cát.

Từ đây chạy vào một đoạn giáp Quảng Ngãi, là xã Tam Nghĩa, nơi có căn cứ Chu Lai, một thời quân đội Mỹ đóng. Lần đó, rộ lên chuyện con lai, tôi về đây mang theo câu nói của người bạn giáo viên, rằng cũng là học trò, nhưng mình đọc trong mắt những đứa trẻ lai nỗi ngơ ngác tủi phận đến lạ lùng. Đi theo diện con lai, gửi tiền về, rồi sau đó đùm túm chồng-vợ- con-anh-em sang, những câu chuyện lúc đầu sặc mùi tiền, nhưng bập bềnh nổi nên bao cựa quậy buồn thảm của phận tha hương.

Đêm đó tôi lại ở đây, ngồi trên cát nghe bạn kể dằng dặc nỗi khổ của dân vùng cát. Từ Tam Nghĩa, chạy ra Tam Hiệp, Tam Hòa, Tam Anh, chạy suốt về vùng ven biển Cửa Đại của Duy Xuyên xa hút… chỉ cát là cát, nhưng Tam Nghĩa và Tam Hiệp mới là “trùm” cát.

Giac mo cua cat

Mùa nắng, cát lóa nhức mắt. Mùa mưa sũng nước những thung lũng hiếm hoi, đói rau quá nên những người như mẹ Khương mới cào cát đến tóe máu, cắm ngọn lang xuống và cầu trời, còn lại cát nặng trịch ghìm giữ chân người, chỉ có cây dương liễu mới sống nổi. Tạo màu xanh cho cát để kiếm miếng ăn là cuộc so găng âm thầm, khổ sở. Trồng rau thì phải tưới, nhà nào cũng vài đôi gàu, gánh nước rách cả vai.

Mùa nắng gắt, nước đổ xuống chưa chạm đất đã bốc hơi mất. Mưa thì mịt mù. Sợ nhất là bão cát, miếng cơm đưa vào miệng lạo xạo. Trưa nắng mà đứng ngó những người đàn bà vùng cát đen nhẻm, khô quắt, đôi gàu trên vai; trên nắng, dưới cát nóng, bóng họ đứng sững như thu lôi, nhìn quanh trắng toát một màu, khác chi phận bị trời đày. Cát đi vào giấc ngủ, ám ảnh khôn thôi, nhưng biết làm sao.

Ở vùng cát, người ta cắt vải, da, xốp, tròng vào chân cho gà, bởi nóng đến gà cũng không chịu nổi, nên thành ngữ “gà mang dép” như là chỉ dẫn địa lý của vùng cát. Những tháng hạn, nhìn cát như cháy, đỏ khô cả máu, xém cả tóc. Vì thế, người ta mới ra đi, mong sao đời con cháu khô cháy, nhàu nát như đời mình, khi niềm hy vọng đổi đời là thứ xa xỉ. Không đi nước ngoài được thì đi nơi khác, chứ trụ sao nổi chốn này…

***

Lời Khương lọt thỏm trong ầm ĩ. Lớn lên ở đây, anh em Khương dạt vô Sài Gòn, Bình Dương, rồi quay về, đầu quân vào nhà máy này. “Cả xã em gần 200 thanh niên làm ở đây đó anh”. Tôi gật. Tôi đã lang thang qua các phân xưởng mênh mông, đi một ngày không hết chỗ này, đã nghe từ họ, những cô gái, chàng trai đến từ nhiều vùng, họ kể đơn giản về điểm dừng, nhưng ai sống phận tha hương mới hiểu cái giá của những ngày tháng trôi nổi, để rồi dừng lại bình an, quý biết bao.

Bố mẹ không cho, nhưng rồi chị Lê Thị Nghĩa quê Thanh Chương (Nghệ An) quyết chấm dứt đời công nhân may èo uột trong một xưởng may không biết đóng cửa lúc nào ở Thủ Đức, theo chồng về quê Tam Hiệp dựng nghiệp. Chị làm ở chuyền lắp ráp hoàn thiện xe du lịch, chồng làm ở xưởng cơ điện.

Chuyền của chị có đến 150/210 nữ, những việc tỉ mẩn, khéo léo phải nhờ cậy đến phụ nữ, tựa như ở xưởng may, sơn trít, bắn keo khung sàn trước khi đưa lò sấy. Rồi chị nói như… phân trần: “Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, anh em làm ở đây cũng nhiều lắm”.

Nếu ai không có chỗ ở, nhà máy sẽ tạo điều kiện giúp; đi làm thì đưa đón; lương ổn định, nửa tháng trả một lần. Ai chưa thạo nghề thì nhà máy đào tạo, phát đồng phục, ăn trưa miễn phí, học miễn phí, đưa đón, học xong không làm cho nhà máy cũng không sao, trong thời gian thực tập sẽ có lương…

Nói thẳng ra rằng, với người lao động, khi nhu cầu việc làm bức bách như máu, có được một chỗ như thế, hẳn là như phao cứu sinh. Và câu chuyện 13 năm tồn tại, từ lúc cây cọc đầu tiền cắm xuống cát Chu Lai để bây giờ là tổ hợp cơ khí ô tô lớn nhất Việt Nam của Tập đoàn Ô tô Trường Hải đóng tại Núi Thành-Quảng Nam, với tôi là câu chuyện áo cơm, hòa hợp của bao gia đình.

Ở nhà máy xe tải, chuyện của chị Lê Thị Phương ở xưởng sơn nhà máy xe tải là câu chuyện buồn khi chồng bị đột ngột mất, nhưng Phương nổi lên là tay thợ giỏi. Quê chị ở miền núi Tam Trà-Núi Thành, ra Đà Nẵng học may, lương không đủ sống, ba mẹ kêu về, quăng quật với ruộng, đói dài, bèn nộp đơn vào đây. Gần 11 năm gắn bó với nhà máy bằng công việc sơn, trít, bắn keo khung xe, bây giờ chị là tổ trưởng của tổ 11 chị em đã có gia đình.

Lúc nãy tôi hỏi chị Yến, Phó quản đốc xưởng may, nắm trong tay 180 nữ và 37 nam, chuyên cắt, may bạt, rằng có ai bỏ việc không. Chị trả lời bằng giọng của người đã “lên bờ, xuống ruộng” nhiều nơi trước khi có thâm niên gần sáu năm chốn này: “Bình yên đó anh. Tại đây họ đối xử có văn hóa, nên hiếm khi có ai bỏ việc”.

Tôi nghe mà nể chị. Cơm áo ổn định, chưa đủ, chất keo gắn ông chủ và người làm công sẽ rời ra, lỏng lẻo nếu như cứ trượt dài chỉ biết việc và tiền. Kẻ làm thuê có lòng tự trọng chẳng thua người trên đầu mình. Giữ họ lại với mình dài lâu, điều này thuộc về phẩm chất của người đứng đầu.

Như chuyện chị Thu ở xưởng của chị Yến, bị bệnh hiểm nghèo, bao lần lên bàn mổ là bấy nhiêu lần công ty đứng ra lo, bởi nhà nghèo quá, nên chị nói mang ơn nhà máy.

Chị Nguyễn Thị Hương nhân viên y tế của Thaco KIA, kể liền một mạch rằng, chính công ty đã cứu sống gia đình chị. Đó là năm 2007, gia đình chị ở xã Tam Anh Nam huyện Núi Thành, cha mẹ làm nông không đủ tiền cho các con theo học, nên xong cấp III, chị phải ở nhà làm ruộng. Lúc đó nhà máy tuyển người, thế là ông bà xin vô làm thời vụ.

Thật may, nửa tháng nhà máy phát lương một lần, nên anh em Hương lại đi học. Anh ruột là kỹ sư cơ điện, chị Hương học cao đẳng y tế, ra trường, rồi chồng chị Hương cũng vào làm ở đây. Năm người trong một nhà ăn lương của nhà máy. “Thiệt tình, gia đình tôi mang ơn công ty”, Hương nói. Tôi tin đó là lời nói chân thành của Hương.

Giac mo cua cat
Chị Nguyễn Thị Hường quê Thanh Hóa, công nhân xưởng may ghế

Tôi có một người bạn làm thơ, có lần anh cảm khái: “Muốn biết đời buồn, hãy lên quốc lộ”. Đó là anh nói chuyện sau tết, từng đoàn nam thanh nữ tú tay xách nách mang đứng chờ đón xe vô Nam, sau một năm vật vã lăn lộn kiếm sống.

Trụ lại ở quê là bất khả, tha hương xứ người là bất đắc, nhưng biết làm sao, lần lượt kéo đi, sống vật vã chen chúc trong những nhà trọ tồi tàn, những bữa cơm chiều cá ôi rau héo, nhưng phải sống, khi lối về mịt mùng.

***

Gia đình ba thế hệ, hai thế hệ gắn bó với công ty, đổi sức để có áo cơm, không ít, nhưng không gieo mạnh vào óc tôi bằng con số đã có 327 cặp vợ chồng cưới nhau ở đây.

Ông Nguyễn Văn Kim Lân, Giám đốc hành chính nhân sự của Auto Thaco cười rằng, lâu lâu lại được mời lên phát biểu đám cưới. Số lao động nữ ở đây là 1.067 người. Tôi nói ý nghĩ này, bởi nhãn tiền ở các khu công nghiệp lớn, chuyện khó lấy chồng với công nhân nữ là vết thương không bao giờ kín miệng. Đời cứ trôi tuột, mỏi mòn, để một ngày khi không còn sức nữa thì tay trắng hoàn toàn, mọi thứ như bóng ma qua đời.

Một tổ hợp công nghiệp có đến 8.700 lao động, 85% trong đó là dân địa phương, còn lại các tỉnh lân cận, trải trên diện tích 600 ha, từ cảng biển đến các nhà máy ô tô, trường dạy nghề… với vốn đầu từ hơn 30 ngàn tỷ, năm 2015 đã đóng cho tỉnh Quảng Nam 10 ngàn tỷ đồng ngân sách… và theo các nhà cung cấp dịch vụ cho Thaco, thì công ty đang giải quyết việc làm cho 60 ngàn lao động, thì nào có nhỏ đâu.

Rồi ông Lân trầm tư rằng, mong sao công ty làm ăn ổn định, ai cũng muốn có tiền, cả nhà máy lẫn anh chị em công nhân. Tôi thì nghĩ đến những câu chuyện của cát. Để làm cuộc hồi sinh vùng cát trắng này, là câu chuyện ngỡ ngàng.

Tôi nhớ, khi động thổ Khu Công nghiệp cơ khí ô tô Chu Lai - Trường Hải mở rộng ngày vào 24/4/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đúc kết: “13 năm có mặt tại Quảng Nam, để biến đổi vùng cát mà dân gian nói “chó ăn đá, gà ăn muối”, Auto Thaco là biểu hiện của lòng yêu nước”.

Rồi ông kể, khi vô Biên Hòa kéo ông Trần Bá Dương - Chủ tịch HĐQT Auto Thaco ra Quảng Nam, vợ ông Dương rất buồn. Tôi đọc đâu đó, ông Dương nói với anh em công ty trước khi ra Chu Lai, là thành công cũng ở đó, chết cũng ở đó...

Tôi nhớ những người quen ở cát, cả những nhân vật đã gặp rồi quên béng đi trong bao lần về đây. Người vùng cát hình như họ hay tủi phận, ít nói, nhưng kiên gan, lì lợm như cây xương rồng, dương liễu trân mình với cát.

Lại nhớ một thời, người ta bí quá mới kêu gọi dân trồng tiêu, thua, chuyển qua cây điều, trái mọc rụng đầy mà Trung Quốc không mua, rồi lại thương lái Trung Quốc xúi bà con trồng mướp để lấy xơ, xong họ biến, đến bò cũng không thèm ăn, nên dân vùng cát kết luận chua chát: “Tiêu điều xơ xác mướp!”.

Để có một chỗ mà tránh cái nạn khổ muôn đời “tối ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm” như dân vùng cát, điều có thực ở vùng cát Quảng Nam, là người ta nhìn vô công ty này, xem đó là chỗ bấu víu, và sẽ chẳng ai dám hỏi, liệu đến ngày nào đó, “trái tim xanh” trên cát này ngừng đập, những phận người sẽ dạt về đâu?...

Trung Việt