Menu

Ung thư lưỡi di động

05:30 20/01/2018

pno
Ung thư lưỡi di động là loại ung thư thường gặp nhất trong các loại ung thư khoang miệng. Hàng năm, tại Bệnh viện Ung bướu TP.HCM,có gần 200 trường hợp mắc ung thư lưỡi di động mới.

Bệnh thường gặp ở độ tuổi 60 đến 70, tỷ lệ mắc bệnh ở nam nhiều gấp đôi nữ. Hiện nay, có nhiều tiến bộ trong điều trị ung thư lưỡi như: phẫu thuật kết hợp tạo hình hoặc xạ trị bao gồm xạ trị ngoài và xạ trị trong mô, giúp cải thiện đáng kể kết quả sống còn cũng như bảo tồn được chức năng và thẩm mỹ rất tốt cho người bệnh.

Dấu hiệu cảnh báo có thể nhìn thấy

Ung thu luoi di dong
 

Những dấu hiệu thường gặp nhất là ở hai bờ lưỡi và bụng lưỡi: 

• Vết loét lâu lành không đau trên một tháng.

• Tổn thương bạch sản (tiền ung thư) là những vùng nhỏ, dầy nhẹ, màu trắng đục, lan tỏa hoặc đồng nhất.

• Tổn thương hồng sản (tiền ung thư hoặc ung thư) là những vùng có màu đỏ sậm, nằm giữa vùng bạch sản hoặc tăng sừng xung quanh.

• Tổn thương dạng u nhú trên bề mặt lưỡi, viền xung quanh không đều. 

• Trễ hơn là tổn thương dạng xâm nhiễm, thành mảng cứng, hạn chế cử động lưỡi, chảy máu và đau.

Sinh thiết một phần và xét nghiệm mô bệnh học là phương tiện chẩn đoán xác định. Giai đoạn bệnh tùy theo kích thước của bướu. Bướu càng nhỏ, lưỡi còn mềm mại và di động tốt thì khả năng chữa khỏi bệnh càng cao.

Yếu tố nguy cơ:

• Rượu, thuốc lá.

• Nhai trầu, xỉa thuốc.

• Vệ sinh răng miệng kém.

• Nhiễm HPV.

Ung thu luoi di dong
 

Điều trị ung thư lưỡi

Phẫu thuật là phương pháp được sử dụng nhiều nhất. Phẫu thuật lấy đi một phần hoặc một nửa lưỡi bao gồm bướu, kết hợp nạo hạch cổ. Vùng khuyết hổng lưỡi sau mổ sẽ được tạo hình để phục hồi hình dạng và chức năng của lưỡi như bình thường. 

Giai đoạn ba - bốn cần phải xạ trị hay hóa xạ trị sau mổ. Tỷ lệ khỏi bệnh 5 năm sau mổ của giai đoạn một - hai là 75% và giai đoạn ba - bốn là 40%. Chức năng và thẩm mỹ của lưỡi sau mổ nhìn chung được đánh giá rất tốt.

Xạ trị là phương pháp lựa chọn thay thế khi cần bảo tồn chức năng và thẩm mỹ. Xạ trị ngoài kết hợp xạ trị trong mô cho kết quả sống còn khả quan có thể so sánh với phẫu thuật. Tỷ lệ khỏi bệnh 5 năm sau xạ trị của giai đoạn một - hai có thể đạt trên 80%. Chức năng và thẩm mỹ của lưỡi sau xạ trị không thay đổi đáng kể so với trước xạ trị.
Nếu được phát hiện càng sớm kết quả điều trị càng cao, người bệnh ít bị thay đổi hình dạng và chức năng của lưỡi, giúp nâng cao chất lượng sống sau điều trị.

Bác sĩ Lâm Đức Hoàng

Trưởng khoa Xạ 3, Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM