Menu

Những câu chuyện thú vị về ngày rằm tháng Bảy không phải ai cũng biết

20:04 16/08/2016

pno
Đối với người Tày, Nùng Cao Bằng, Rằm tháng Bảy – là lễ "Pây Tái" một trong hai cái Tết quan trọng nhất của năm, sau Tết Nguyên đán.

Với người miền xuôi, dịp Rằm tháng Bảy vừa là lễ Vu Lan báo hiếu cha mẹ, tổ tiên, là ngày xá tội vong nhân và là dịp tương phùng của Ngưu Lang- Chức Nữ. Đối với người Tày, Nùng Cao Bằng, Rằm tháng Bảy – là lễ "Pây Tái" một trong hai cái Tết quan trọng nhất của năm, sau Tết Nguyên đán.

Rằm tháng Bảy của người Kinh

Tháng Bảy âm lịch, người Việt có một ngày lễ mà giới tăng ni Phật tử thường gọi là ngày lễ Vu Lan. Đây là một đại lễ báo hiếu cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã khuất – một tập tục đáng quý, đáng trọng của người Việt. Rằm tháng Bảy còn là ngày xá tội vong nhân mà dân gian gọi nôm na là ngày cúng chúng sinh. Tháng Bảy còn là tháng mưa Ngâu – gắn với sự tích ông Ngâu bà Ngâu hay còn gọi là tích Ngưu Lang - Chức Nữ.

Đối với ngày này, con cái thường nấu bày biện hoa quả, nấu mâm cỗ cúng bày lên ông bà tổ tiên; ăn chay; làm lễ để cúng cho những linh hồn phiêu bạt không nơi nương tựa.

Lễ Vu Lan

Xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ.

Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, khi Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông thì mẹ ông đã qua đời. Ông nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt thần để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên, do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi, không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy, khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.

Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó".

Làm theo lời Phật, mẹ của Mục Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.

Nhung cau chuyen thu vi ve ngay ram thang Bay khong phai ai cung biet
Hình ảnh đẹp trong Lễ Vu lan.

Ngày xá tội vong nhân

Theo "Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh" mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện A Nan Đà với một con quỷ miệng lửa (quỷ mặt cháy). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng, ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi tai ương. Quỷ đói nói: "Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên". A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi Là "Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni", đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Cúng cô hồn còn được gọi là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu có nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là "thả quỷ miệng lửa", về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành "tha tội cho tất cả những người chết". Vì vậy, ngày nay mới có câu: "Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân". Nhưng lễ cúng cô hồn khác với lễ Vu Lan. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát; một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn chưa được siêu thoát, những vong hồn không nơi nương tựa.

 Tương phùng Ngưu Lang – Chức Nữ

Thuở xưa, có vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng tên là Ngưu Lang, vì say mê nhan sắc của một tiên nữ dệt vải Chức Nữ nên bỏ bễ việc chăn trâu, để trâu đi vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.

Về sau, Ngọc Hoàng nghĩ lại, thương tình nên cho Ngưu Lang và Chức Nữ mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hoá thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu.

Nhung cau chuyen thu vi ve ngay ram thang Bay khong phai ai cung biet
Tương phùng Ngưu Lang-Chức Nữ.

Thời bấy giờ, sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả nên Ngọc Hoàng ra lệnh làm cầu. Các phường thợ mộc trần thế làm mỗi người một kiểu, không ai nghe ai, đến kỳ hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy đầu nối lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Bị hoá làm quạ, các phường thợ mộc lại càng giận nhau hơn. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều.

 Lễ hội “Pây tái” của người Tày Nùng Cao Bằng

Trong vòng chu kỳ của một năm với bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, trải dài trên mười hai tháng, đối với đồng bào Tày, Nùng quanh năm gần như tháng nào cũng có tết, mỗi ngày lễ tết đều có nguồn gốc và ý nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hàm chứa những giá trị văn hoá đặc sắc của dân tộc và mang tính nhân văn sâu sắc.

Rằm tháng Bảy - lễ "Pây tái" - là một trong hai cái Tết quan trọng nhất của năm, sau Tết Nguyên đán. Bởi thế, người Cao Bằng có câu “Tết tháng Giêng hẹn từ tháng Bảy” và Tết tháng Bảy người Cao Bằng cũng hẹn từ tháng Giêng. Lễ "Pây tái" diễn ra vào ngày mùng 2 Tết và ngày Rằm tháng Bảy hằng năm.

Lễ “Pây tái” lễ quan tâm, trả ơn công sinh thành nhà ngoại

Ngày xưa, vùng Cao Bằng, Lạng Sơn và một số tỉnh giáp biên phía Bắc có địa hình đồi núi trùng điệp, giao thông cách trở. Từ bên nhà chồng về nhà bố mẹ vợ có khi phải đi bộ trên chục cây số đường đồi núi. Vì vậy ngay từ sáng sớm Mùng 2 Tết, người phụ nữ đã cùng chồng chuẩn bị quà để “pây tái” bên nhà ngoại. Ngày nay, giao thông thuận tiện, việc đi lại dễ dàng. Nhưng với người Tày, Nùng dù sống ở bất cứ nơi đâu trên dải đất hình chữ S cũng không thể quên tục “pây tái” vì nó hàm chứa nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc.

Nhung cau chuyen thu vi ve ngay ram thang Bay khong phai ai cung biet
Lễ "pây tái" của người Tày Nùng Cao Bằng.

Người Tày, Nùng quan niệm rằng, những người phụ nữ sau khi đi lấy chồng, quanh năm phải cùng chồng con lo toan việc làm ăn ở nhà chồng, và phải quán xuyến hương khói thờ phụng ông, bà, tổ tiên nhà chồng. Chính vì vậy, ngày mùng 2 tháng Giêng và ngày Rằm tháng Bảy là dịp người phụ nữ cùng chồng con mình trở về nhà bố mẹ đẻ để tự tay được chăm sóc cho cha mẹ.

Dịp này, con gái, con rể, các cháu ngoại thường “Pây Tái” rất sớm với gánh đồ lễ, trong đó không thể thiếu đôi vịt béo, thể hiện lòng hiếu thảo, biết ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên bên ngoại. Khi về tới nhà bên ngoại, các con gái, cháu gái mới tập trung làm thịt vịt, cả nhà vui vẻ cùng chung tay chế biến các món ăn truyền thống từ thịt vịt.

Nhung cau chuyen thu vi ve ngay ram thang Bay khong phai ai cung biet
Ngày này, người dân hay tìm mua vịt để chế biến các món ăn từ vịt bày tổ tiên và ăn cơm.

Người Tày, Nùng thường có câu cửa miệng khi nói về các món ăn thuộc về phong tục của dân tộc mình: Bươn Chiêng kin nựa Cáy, bươn Chất kin nựa Pết (nghĩa là tết tháng Giêng ăn thịt gà, tết tháng Bảy ăn thịt vịt). Theo truyền thuyết, con vịt được coi là con vật thiêng trong tâm linh của người Tày, Nùng, vì con vịt là vị sứ giả của mường trần gian với mường trời. Con vịt đó có công cõng gà trống vượt biển (khảm hải) đi cống sứ mường trời vào ngày rằm tháng Bảy hằng năm.

Nhung cau chuyen thu vi ve ngay ram thang Bay khong phai ai cung biet

Qua thời gian, tục lệ ăn Tết Rằm tháng bảy của người Tày, Nùng Cao Bằng vẫn giữ nguyên được những nét truyền thống từ ngàn xưa. Dù cách làm, phong tục mỗi nơi, mỗi dân tộc khác nhau nhưng tấm lòng hiếu kính với cha mẹ, tổ tiên là những giá trị đáng quý luôn trường tồn.

Rằm tháng Bảy còn hàm chứa nhiều ý nghĩa khác

Theo cụ Vương Hùng, 85 tuổi, người dân tộc Tày bản địa, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Cao Bằng, Rằm tháng Bảy ở Cao Bằng còn mang nhiều ý nghĩa khác. Đây là dấu mốc quan trọng của quá trình sản xuất trong năm. Mùa này, bà con thu hoạch xong vụ lúa chiêm, vụ ngô và cấy xong vụ mùa. Việc lao động sản xuất thảnh thơi, chỉ cần làm cỏ, chăm bón chờ đến ngày thu hoạch. Vì thế, bà con mở tiệc ăn mừng, làm cỗ thắp hương mời tổ tiên về chứng kiến và mong tổ tiên phù hộ cho mưa thuận gió hòa, cây lúa sinh trưởng tốt tươi được mùa.

Ý nghĩa thứ hai của Rằm tháng Bảy là tưởng nhớ vong linh những chiến binh của nghĩa quân Nùng Trí Cao - một anh hùng dân tộc Tày sống ở thời nhà Lý thế kỷ 11.

Nùng Trí Cao là con của một thủ lĩnh địa phương, được triều đình nhà Lý đào tạo, giao quyền cai quản, bảo vệ biên cương phía Bắc của Tổ quốc trước sự xâm lấn của nhà Tống ở phương Bắc. Trong một trận chiến ác liệt ở Tổng Quỷ, gần cửa khẩu Tà Lùng, huyện Phục Hòa (Cao Bằng), nhiều quân binh cùng Nùng Trí Cao tử trận. Vì thế, nhân dân thương tiếc lấy ngày 14/7 làm ngày giỗ của quân binh.

Nhung cau chuyen thu vi ve ngay ram thang Bay khong phai ai cung biet
Nhà nhà làm bánh gai.

Trong ngày này, người dân thường làm “Pẻng tái” (người Kinh gọi là bánh gai) để cúng vong hồn binh sĩ. Chứ "Pẻng tái” dịch ra nguyên nghĩa là "bánh đưa đường". Tương truyền, khi quân của Trí Cao lên đường đánh giặc, đi đến đâu, người dân cũng làm bánh gai cho quân sĩ làm lương thực vì bánh có thể để được lâu ngày.

Nhung cau chuyen thu vi ve ngay ram thang Bay khong phai ai cung biet
Đây là món bánh không thể thiếu trong ngày truyền thống này.

Với người Tày, Nùng, dù sống ở bất cứ nơi đâu trên dải đất hình chữ S cũng không thể quên phong tục Ăn Rằm Tháng Bảy vì chứa nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Chính vì vậy, phong tục này cần được gìn giữ và phát triển hơn nữa trong thời đại xã hội ngày càng phát triển như hiện nay, góp phần bảo tồn không gian văn hóa chung của đồng bào các dân tộc.

Ngọc Linh