Menu

Chồng bỏ về Hàn Quốc, tôi có ly hôn được ở Việt Nam?

12:00 30/01/2019

pno
Tôi kết hôn với người Hàn Quốc nhưng không hạnh phúc. Đợt tết này chồng tôi có thể sẽ về Hàn Quốc rồi ở lại bên đó luôn. Tôi có thể yêu cầu ly hôn tại tòa án Việt Nam được không?

Hỏi: Tôi là công dân Việt Nam, chồng tôi quốc tịch Hàn Quốc, kết hôn tại Hàn Quốc năm 2010. Sau đó, vợ chồng tôi về Việt Nam sinh sống và làm việc từ năm 2014. Chúng tôi mua một mảnh đất giá 1 tỷ có diện tích là 250m2, mảnh đất này đứng tên tôi. Tuy nhiên, sau một thời gian sinh sống, chúng tôi xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể tiếp tục hôn nhân được nữa. Đợt tết này chồng tôi có thể sẽ về Hàn Quốc ăn Tết rồi ở lại bên đó luôn. Tôi có thể yêu cầu ly hôn tại tòa án Việt Nam được không? Vậy mảnh đất đó có được phân chia như thế nào và mỗi người được diện tích bao nhiêu?

Đoàn Thị Như (TP. HCM)

Chào bạn,

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định tại điều 470 về thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam:

“1. Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:

b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam”

Chong bo ve Han Quoc, toi co ly hon duoc o Viet Nam?
Ảnh minh họa

Theo quy định này, việc ly hôn của hai vợ chồng bạn là giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài nên đương nhiên được tòa án có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết. Để giải quyết tài sản khi ly hôn, cần xem xét pháp luật áp dụng điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Trong đó cụ thể là Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có quy định tại điều 127 về ly hôn có yếu tố nước ngoài và có lưu ý rằng việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Ngoài ra, luật Hôn nhân và Gia đình 2014 tại điều 33 có quy định về tài sản chung của vợ chồng:

“Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Chong bo ve Han Quoc, toi co ly hon duoc o Viet Nam?
Ảnh minh họa

Mảnh đất mà hai vợ chồng mua là trong thời kỳ hôn nhân, tuy rằng đứng tên bạn nhưng đây là tài sản chung vì được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, sau khi kết hôn. Vì vậy, về nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn, hai bên có thể thỏa thuận việc chia tài sản này, nếu không thỏa thuận được thì chia đôi giá trị tài sản trên nhưng có tính đến các yếu tố theo khoản 2 điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

Tuy nhiên cần chú ý trường hợp chia tài sản sau khi ly hôn đối với chồng bạn là người nước ngoài. Căn cứ Luật Nhà 2014 tại điều 159 quy định về đối tượng được sở hữu nhà ở và hình thức sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài và Luật Đất đai 2013 tại điều 186 cũng quy định rõ: “Người nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”.

Vậy chồng bạn không được đứng tên sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. Vì vậy đối với mảnh đất 1 tỷ thì chồng bạn chỉ có thể hưởng một nửa giá trị mảnh đất đó bằng tiền mặt. Bạn vẫn là người đứng tên trên diện tích đất đó, nhưng có thể phải thanh toán giá trị mà chồng bạn được nhận khi ly hôn.

Luật sư Nguyễn Kiều Hưng

(Hãng Luật Giải Phóng)