Con đường thử thách ý chí
Đại tá Hoàng Đình Xuất, Phó chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Hà Giang cho biết: “Đây là đồn khó khăn nhất của lực lượng biên phòng Hà Giang, đường ô tô không vào được tận nơi. Chỉ cần trời mưa nhỏ thôi là nơi đây rơi vào tình trạng “nội bất xuất, ngoại bất nhập” nhiều ngày. Đời sống chiến sĩ vất vả lắm, nên bản Máy được xem là nơi “thử lửa” của lính biên phòng. Hầu hết các chỉ huy của lực lượng biên phòng Hà Giang đều được “tôi luyện” ở bản Máy vài năm”.
Tôi rời TP. Hà Giang từ sáng sớm, quá trưa thì đến thị trấn Hoàng Su Phì. Chiếc ô tô chuyên “phượt” đường trường đành phải gửi lại ở trung tâm huyện. Những người lính biên phòng trang bị ủng cao su, xe máy chuyên dụng, ra huyện từ hôm qua, chờ để đón chúng tôi vào đồn Bản Máy. Mấy cơn mưa nhỏ của tuần trước dường như không đọng lại điều gì trong trí nhớ của con người, riêng chỉ có con đường thì vẫn lầy lội. Qua những vòng cua nguy hiểm, chiếc xe lắc mạnh chực văng ra ngoài. Có những đoạn cua chênh vênh trên núi, đường chỉ vừa một bánh xe. Núi đất gặp mưa dầm, nhão ra như cháo, sạt xuống thình lình “nuốt chửng” cả con đường. Người chở tôi là lính quân nhu. Anh là người ra vào nhiều nhất trên con đường này so với các chiến sĩ khác, chua chát bảo: “Rất hiếm nhà báo hay cán bộ trung ương lên được tận đây xem thực tế đời sống khó khăn của bà con thế nào. Con đường đã rục rịch triển khai mấy năm rồi mà vẫn chưa làm nổi. Năm nào địa phương cũng kêu lên huyện, tỉnh mà chẳng ai “thấu”. Lãnh đạo tỉnh mà muốn vào kiểm tra tình hình an ninh chính trị ở bản Máy, phải đợi dịp thời tiết thuận lợi nhất, địa phương huy động dân quân đi thông đường y như trong thời chiến tranh. Thông đường xong, còn phải nín thở cầu cho trời đừng mưa... thì đoàn kiểm tra mới vào bản Máy được bằng xe u oát đặc chủng".
Chưa tới 20km đường mà chúng tôi phải đi mất gần ba tiếng, có đoạn phải nhắm mắt, không dám nhìn xuống con đường, chỉ cần một sơ suất nhỏ thôi, tất cả sẽ lao xuống vực. Trước mặt là núi, sau lưng là rừng. Trời đất mịt mù, không một bóng người.
Chiều biên cương vời vợi
Xóm “mồ côi vợ”
Đêm xuống, bên chén rượu nóng để xua cái lạnh giá của những ngày cuối đông khắc nghiệt, những người lính biên phòng kể, ở đây có một xóm "mồ côi vợ", đàn ông trong bản không lấy vợ, tập trung sống với nhau. Tôi ngạc nhiên lắm, háo hức muốn được xuống xóm "mồ côi vợ" ngay, nhưng anh lính hài hước khoát tay bảo: “Thì cô đang ngồi uống rượu với những người đàn ông của xóm
mồ côi vợ đấy thôi!”. Mọi người cười phá lên. Thiếu tá, đồn phó Nguyễn Xuân Hải giải thích: “Các anh em ở đây mỗi năm chỉ gần vợ, con được vài lần. Người vợ nào dũng cảm lắm thì cũng chỉ lên thăm chồng được một đôi lần trong đời. Vì thế, hơn 80% lính biên phòng Bản Máy đều lấy vợ làm giáo viên ở quê. Họ chọn vợ làm nghề giáo là để ổn định và có thể chia sẻ với những người chồng quanh năm xa nhà. Người may mắn lấy vợ ở Hà Giang còn có cơ hội được về hoặc thỉnh thoảng đón vợ lên thăm; còn những người ở các tỉnh xa như Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên... thì chỉ đoàn tụ gia đình mỗi năm một đợt nghỉ phép kéo dài hai tuần".
Ở bản Máy, anh Hải là người may mắn nhất đồn, không bị “mồ côi vợ”. Chị Nguyễn Thị Hương (vợ anh Hải) là giáo viên cắm bản của một trường cấp II của H.Hoàng Su Phì. Các con anh Hải đều đã lớn, hai anh em tự lập sống trong căn nhà mà cha mẹ chưa kịp sắm sửa gì suốt mấy năm nay. Cuộc sống gia đình họ chìm trong chuỗi ngày xa cách bất tận. Mỗi tháng, chị Hương chia đôi ngày nghỉ cho chồng, con. Tuần nào chị về với con thì anh Hải phải ở lại trực đơn vị một mình. Tuần nào người phụ nữ bé nhỏ ấy cũng lặn lội vài chục cây số, xuyên qua con đường khủng khiếp để lên bản Máy thăm chồng. Hầu hết những người lính biên phòng ở bản Máy phải sống trong tình cảnh gia đình “3, 4 niêu”. Phương châm của những người đàn ông ở xóm "mồ côi vợ" là “không được giận vợ, vì thời gian ở với vợ quá ngắn ngủi”.
Bản Máy ngày chợ phiên
Thiếu tá Đặng Quốc Phong, chính trị viên phó của đồn kể: “Quê tôi ở tận Tam Dương, Vĩnh Phúc, vợ trẻ đẹp lắm, nhưng mà say xe. Có gặp nhau thì cũng chỉ qua điện thoại hoặc nhắn tin cho nhau thôi chứ không thể chạm vào nhau được. Các cung bậc cảm xúc, phút thăng hoa của tình yêu, tình chồng vợ đều chuyển qua chiếc điện thoại, nhờ thế mình cũng bớt cô đơn phần nào”.
Anh Phong đã gắn bó lâu năm ở mảnh đất Hà Giang. Tốt nghiệp Đại học Biên phòng, anh đầu quân về đây, sau đó qua thực tế ở Lũng Làn, đồn biên phòng Thanh Thủy và cuối cùng lại về Bản Máy. Anh yêu biên giới và gắn bó với mảnh đất này như quê hương của mình. Khi vợ sinh đứa con thứ hai, anh Phong gợi ý đặt tên là Sơn Vĩ, để nhớ về một vùng đất anh đã từng công tác, nhưng vợ nhất định không chịu. Đơn giản vì chị không muốn nhớ lại quãng thời gian xa nhau đăng đẳng ấy.
Ấm tình quân dân
Trạm biên phòng Bản Máy, đặt phòng khám quân - dân y kết hợp nằm sát biên giới, vừa để kiểm soát khu vực, vừa để khám, chữa bệnh miễn phí cho dân. Đại úy Vũ Hữu Hoàn phụ trách phòng khám, là người có hoàn cảnh gia đình khó khăn nhất đồn biên phòng Bản Máy. Có nghề y trong tay, đi chữa bệnh cứu giúp nhiều người nhưng anh đành bất lực trước bệnh tình của vợ. Gia đình anh Hoàn ở tận Hải Dương, vợ anh cũng làm nghề giáo, mới đây đã nghỉ dạy vì phát hiện bệnh ung thư. Nhìn sức khỏe vợ ngày càng kém, anh Hoàn xót quá, định xin về hưu sớm để chăm vợ, nhưng chị không chịu, một mực đòi chồng phải trở về đơn vị công tác mới chịu uống thuốc chữa bệnh. Khi kể về người vợ chịu đựng, hy sinh cả cuộc sống cho mình, anh Hoàn rưng rưng nước mắt. Đáng ra anh phải ở bên vợ lúc này, nhưng chị lại động viên chồng: “Biên giới cần anh, người dân cần anh, các con và em càng cần anh giữ vẹn tròn hình ảnh người lính biên phòng đẹp ngời trong mắt mọi người”.
 |
Đại úy Vũ Hữu Hoàn: "Mình khó khăn nhưng chưa là gì so với khó khăn của dân"
Làm công việc quân - dân y ở bản Máy không chỉ khó vì khan hiếm thuốc men kinh khủng mà còn khó khăn vì những hủ tục lạc hậu của người vùng cao. Đã vậy, người dân lại quá nghèo. Anh Hoàn kể: “Mình khó khăn thế nhưng chưa là gì so với sự khó khăn của người dân. Có khi, đỡ đẻ cho người ta xong, thấy sản phụ yếu ớt, không có gì ăn, cũng chẳng có sữa cho trẻ con bú... mình lại vét những đồng lương cuối cùng để mua thêm đường, sữa cho họ”. Có lẽ vì thế mà nhân dân thương bộ đội lắm, thỉnh thoảng có quả trứng, mớ rau, họ đều mang lên biếu. Có người đi mất nửa ngày đường lên đồn biên phòng để chỉ mời bằng được bác sĩ Hoàn về ăn giỗ. Nói chuyện một lúc, anh Hoàn lại quay về với chuyện nhà mình. Anh khoe, “gia tài” lớn nhất của đời anh chính là hai cậu con trai ngoan ngoãn, người vợ thủy chung, hy sinh và một thùng chứa đầy những lá thư vợ chồng anh vẫn thường xuyên viết cho nhau từ ngày mới yêu. Ngày xưa gửi thư từ bản Máy phải mất nửa tháng trời mới đến được tay người nhận. Giờ có điện thoại rồi, nhưng vợ chồng anh vẫn giữ thói quen gửi yêu thương qua những cánh thư...
Ở miền biên ải chỉ có đặc sản là sương muối và giá lạnh này, chúng tôi đã được sống trong sự ấm áp và nồng hậu của những chiến sĩ. Rời bản Máy mù sương, trên vai tôi nặng trĩu nỗi khát khao của hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và người dân nơi đây: “Ước gì bản Máy có một con đường để người dân đỡ nghèo, trẻ con được ấm hơn trong mùa đông lạnh cắt da, cắt thịt”.
THU TRANG