Điệu Nam Bình da diết của xứ Huế chuyên chở giữa những quãng, nhịp ngắn, chậm rãi mà xôn xao xiêm áo bồi hồi phấn son ấy, là bàn chân của người con gái Huyền Trân, bằng một đám cưới kỳ lạ với Chế Mân năm 1306. Chuyện nhân duyên chuyển thành chuyện chính trường, đổi bằng “hai Ô Châu, Lý vuông ngàn dặm”. Câu chuyện mở cõi về phương Nam, mở ra một giang san Đại Việt rộng lớn, được bắt đầu từ đôi hài bé nhỏ của người đàn bà Việt, vì nước non ngàn dặm phải gạt nước mắt ra đi. Để rồi sau hai cuộc Nam tiến dưới thời Lê Thánh Tông và các chúa Nguyễn, một dải sơn hà đã kéo dài đến tận Cà Mau. Cũng bắt đầu từ đấy, trên con đường mở cõi, đồng hành cùng số phận của dân tộc suốt mấy trăm năm, bóng những người phụ nữ, lúc sừng sững, lúc nhạt nhòa nhưng chưa bao giờ mất; lưu dấu niềm đau, tiếng cười, chất ngất tâm sự, bát ngát nỗi lòng, luyến láy qua những khúc dân ca.
Chiều chiều dắt mẹ qua đèo - Con chim kêu (nớ/bên nớ) - úy, óa, chi rứa - chi chi rứa - ức, ức... Con vượn trèo (ni) bên ni. Người Huế bảo rằng, tâm sự trong bài Lý qua đèo này là một gánh nhân tình, vang vọng cả vận mệnh của dân tộc, bởi đó chính là đèo Hải Vân. Vượt qua đó là về phương Nam, lịch sử lật sang một trang khác. Có lẽ, điệu lý kia ra đời sau cái ngày Huyền Trân về làm dâu Chiêm quốc, nên mới có chuyện dắt mẹ qua đèo, với tiếng nghẹn ngào “ức ức” của người con gái. Người qua Hải Vân, một bên là mây và lau trắng như tóc mẹ chờ con bạc mái đầu, dưới kia bể triều vô lượng sóng khói mịt mùng, rùng mình đi bộ thì khiếp Hải Vân - đi thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi, nên người vợ dậm chưn xuống đất kêu trời - chồng tôi vô Quảng biết ngày nào ra, bởi đó là một vùng đất khác, một xứ “Ô châu ác địa”, tới đây sông nước lạ lùng - con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kiêng. Nhưng, từ xứ Quảng kéo dài đến phương Nam, là vùng đất không thể chối từ, ít ra trong tâm thức của những lưu dân đi khẩn hoang từ Thanh – Nghệ vào, bởi số phận họ đã dính chặt với nó, từ sinh tử cá nhân đến chuyện hưng vong xã tắc. Họ chỉ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân (thơ Nguyễn Khoa Điềm) chứ làm sao đem theo vợ con, nên đàn ông vào đây đã lập gia đình với phụ nữ bản địa, tức người Chăm, vì thế mới có câu thương nhớ Anh về ngoài nớ có nhớ em không? Trong ni dạ tưởng lòng trông anh hoài. Đây có thể xem là một dị bản độc đáo của lịch sử chiến tranh. Không có chuyện tắm máu tương tàn, không phân biệt người thắng kẻ thua, người Việt lẫn người Chăm đã chung sống hòa bình, cả trên bình diện tín ngưỡng.
 |
Người phụ nữ ở đâu thì cũng vậy, tảo tần nuôi con, chung thủy với chồng, lặng lẽ niềm vui, phong kín nỗi buồn. Nhưng, ở dải đất miền Trung “như cái mông người đàn bà quay ra biển” (nhà văn Nguyễn Minh Châu) này, tâm tình của người phụ nữ hắt bóng trong dân ca xem ra có khác, bởi phong thổ khác biệt nên nết đất sinh tính người cũng khác. Nếu cánh cò phân vân trong ca dao Bắc bộ là người phụ nữ khăn mỏ quạ, áo nâu sồng, nhưng tình thì đắm say như trầu cau quan họ, về châu thổ phương Nam thì buông thả mái chèo cho câu hò ngút ngàn sông nước. Nhưng miền Trung quay mặt là biển, bước đến là đèo, người phụ nữ như khách bộ hành quảy nải vượt dốc giữa trơn trượt gió mưa. Cái tình của họ cũng vì thế mà quyết liệt, trúc trắc, ngậm ngùi hơn. Câu hát “Lý thương nhau” như cái vặn mình buốt nhói của kiếp nào bật ra bằng phép “đảo từ”, tăng sức mạnh biểu cảm của từ đồng âm dị nghĩa: Thương nhau trường đoạn í a đoạn trường- à í a lụy lưu à í a lưu lụy dạ ớ ơ dường là dường kim châm! Hình như chỉ có dải đất xương xẩu này mới nảy nòi ra nỗi sợ hãi đến sững sờ: lấy chồng nghề biển hồn treo cột buồm. Cũng là chiều chiều thương nhớ, nhưng không như ngoài Bắc: Chiều chiều ra đứng ngõ sau - Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người, mà tướp máu, xát lòng hơn: Chiều chiều mây phủ Sơn Trà - Lòng ta thương bạn nước mắt và trộn cơm - Vẫy vùng như cá trong nơm - Sớm mai nam ta trông bạn, buổi chiều nồm bạn trông ta.
Trên khắp nẻo đường của đất Việt, có biết bao ngọn đèo, thì mỗi ngọn đều như một hòn vọng phu, sừng sững bóng người phụ nữ cằn khô nước mắt chờ chồng. Nhạc sĩ Lê Thương chẳng từng có Hòn vọng phu với hình ảnh một chinh phu đi mở cõi: Bên Man Khê còn trong gió bụi mịt mờ - Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng. Câu ca Chiều chiều gió thổi Ải Vân - Chim kêu ghềnh đá gẫm thân em buồn, có người bảo đó là tâm sự của Huyền Trân khi ngoái đầu nhìn về quê nhà mịt mùng khói sóng, muôn dặm quan san. Có người lại bảo đó là lời khóc thầm của người vợ có chồng đồn trú Ải Vân quan. Nếu ở Phú Yên có đèo Cù Mông hiểm trở không kém, thuở ra đi khai phá miền Nam, ngọn đèo này vẳng tiếng người chinh phụ: Tiếng ai than khóc nỉ non - Phải vợ chú lính trèo hòn Cù Mông, thì Lý vọng phu xứ Quảng lại dắt người sang một cõi khác. Hình như đó là một buổi trưa, người đàn bà ngồi bó gối trên bậu cửa, tay đưa nôi, ngước trông trời mà nước mắt hòa theo tiếng khóc con trẻ, bởi chàng đã phụ tình. Từ phép lung khởi của ca dao: Chừ trên trời có đám mây xanh - ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng, để đẩy đến nghịch cảnh thảm sầu Xin kính gởi một lời - nhân nghĩa bạn quên đừng quên - hỡi ông chàng là chàng mình ơi - chi mà tệ, tệ lắm chàng - chi mà bạc, bạc rứa chàng - chừ nín nín đi con, con ời con hỡi, là về cha con về, bỏ lại đằng sau khung trời hoa mộng của một thời hẹn hò Lý năm canh, Lý mười thương như cơn sốt rét ký ức vàng son.
Năm tháng quàng lên đôi vai người phụ nữ dải đất này bao gánh tủi cực. Mấy trăm năm tao loạn, gian khó, họ phải học cách sống để vượt lên chính mình, sống bằng khát vọng hiện tồn trong từng khoảnh khắc. Gánh nặng giang san vẫn chưa thôi trên vai áo bạc màu gầy guộc, chưa ngưng nghỉ ở đôi chân trần trong đoàn quân áo vải, như họ đã từng có mặt trong đoàn quân của Bà Trưng Bà Triệu thuở nào Chàng ơi đưa gói thiếp mang-Đưa gươm thiếp vác cho chàng đi không. Âu lo nghĩa lớn nhiều khi là sự đợi chờ, là dựng một hòn vọng phu nữa, nỗi niềm chất ngất còn hơn cả dư ba nước lớn nước ròng: Một mai nước lớn đò trôi - Cây khô lá rụng bậu ngồi chờ ai - Bậu ngồi chờ kẻ có tài - Chờ người nhu sĩ nào ai chờ mình...; Anh đi theo chúa Tây Sơn - Em về cày cuốc mà thương mẹ già. Đó là tâm sự của cô gái Bình Định, sống trong binh biến thời Tây Sơn. Rồi một lần nữa, cô gái đất Thăng Long là công chúa Ngọc Hân muốn ăn bánh ít lá gai - lấy chồng Bình Định cho dài đường đi, ôm phận cô phụ, khóc chồng mà như vẽ được tượng đài lẫm liệt về người anh hùng Nguyễn Huệ bằng bài Ai tư vãn. Khúc hát trên đường Nam tiến của người phụ nữ Việt, tưởng chừng lặng lẽ trong ai oán buồn đau, trong gieo neo cơ hàn, trong nặng nề cơm áo, bỗng rộn rã hẳn lên với Lý ngựa ô, em thắng kiệu vàng, em tra khớp bạc, em sắm cho chàng cho đẹp cho xinh, và thật không ngờ có thêm chút tinh nghịch hiếm có mang dấu ấn khỏe khoắn tâm hồn trong khúc hát Mà rằng cầm chài mà vãi trong cái bụi tre - Con gái mười bảy mười tám theo ve cái ông chài (Lý vãi chài)...
Bắt đầu từ Hóa Châu, cuộc hành phương Nam mấy trăm năm của người Việt là những bước dồn xác lập địa đồ tổ quốc trong nghìn trùng gian khó. Từng vẳng bên kia Hải Vân nỗi ám ảnh truyền đời: Thương anh, em cũng muốn vô - Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang, nhưng cũng tiếp theo câu ca dao ấy lại là: Dặn lòng chớ ngại đừng nghi - Đã thương đừng sợ, sợ thì đừng thương. Một hàm ngôn của khát vọng muốn đổi thay, bứt phá, quyết một lòng ra đi. Ngược dòng huyền sử nước nhà, sực thấy, đất nước này bắt đầu là đàn bà, bằng chuyện Tam Mỵ trên cái nền của vỏ bọc trăm trứng Âu Cơ: Mỵ Nương trong Sơn Tinh - Thủy Tinh; Mỵ Châu trong Mỵ Châu - Trọng Thủy và Mỵ Nương trong Trương Chi... Tất cả là khát vọng chiếm lĩnh cái Đẹp.
Trung Việt