Giấc mơ Lụa 
 
PNX - Tương truyền, từ đời Thái thú Cao Biền, có bà Lã Thị Nga là con gái làng Vạn Phúc đem nghề ươm tơ dệt lụa truyền dạy cho người dân, được suy tôn là Thần hoàng và bà tổ của làng nghề dệt lụa lâu đời vào loại nhất nước Việt.

Tôi vẫn thường băn khoăn, nếu một ngày nào đó, bỗng mất dấu tấm lụa hàng Vân, cốm làng Vòng, gương sen Tây hồ, nét áo dài Trạch Xá... như đã từng mất dấu chiếc cổng làng xưa cũ, nước mắm Vạn Vân, làn điệu quan họ cổ hay xiết bao nét đẹp tinh túy khác trong đời sống hiện thời, thì liệu có lúc nào đó, những thế hệ sau sẽ băng qua được vết đứt gãy văn hóa của ngày hôm nay, để khôi phục lại những tinh hoa của cha ông ngàn đời hay không?

Tấm lụa trải trăm năm...

Bảy năm trước, tôi gặp nghệ nhân Triệu Văn Mão, khi ông còn tráng kiện, bặt thiệp như một vị điền chủ trong tiểu thuyết của Lev Tolstoy. Bàn chân ông đã đạp lên dốc đá cheo leo cao nguyên Đồng Văn mù sương, lặn lội giữa Sài Gòn náo nhiệt những năm chín mươi, bươn bả khắp vùng quê từng có nghề canh cửi để tìm một lối đi cho lụa. Ngày đó, ông chưa được người ta kính nể, gọi là “nghệ nhân” - danh hiệu ông được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và hội nghề nghiệp làng nghề phong tặng vào năm 2003.


Nghệ nhân Triệu Văn Mão

Bảy năm sau, tôi lại tới tìm ông. Lúc này, lụa hàng Vân, lụa cao cấp 100% tơ tằm của Triệu Văn Mão đã nức tiếng trong và ngoài nước. Bức tường trong căn phòng làm việc nhỏ bé của ông chật kín các loại bằng khen, giấy công nhận. Nhờ có ông Mão hết lòng với lụa, mà các gia đình còn giữ nghề dệt lụa ở Vạn Phúc cũng đồng lòng theo đuổi, khuếch trương nghề nghiệp, bán buôn ngày một sầm uất hơn hẳn những năm xưa. Giờ ông Mão đã ở tuổi bảy mươi ba, nét khắc khổ của “lão điền chủ” từng là người lính trận, một đời thương khó nhưng trái tim đôn hậu, nồng nhiệt, càng lộ rõ.

Lụa Vân là hàng lụa dệt hoa văn từ canh sợi tơ, tạo thành hai dòng họa tiết nổi và chìm, dòng nổi phải mịn màng, sáng bóng, dòng chìm phải soi trong ánh sáng mới hiện lên. Cả hai dòng đều sang trọng, đặc thù cho lối trang trí áo khăn của tao nhân, quyền quý nước Việt xưa. Dệt vân theo lối cổ truyền phải dùng khung cửi go võng, để tạo thành những đố giữa giữ cho sợi dọc và sợi ngang không bị xô lệch khi tạo hoa văn. Ngoài go ngang go dọc còn có go xà trên, go xà dưới để tạo hình mặt lụa với vô vàn sắp xếp được tính toán đến kích thước từng sợi tơ. Phải dùng thoi lao tay chứ không dùng thoi gạt dây. Nhưng quan trọng nhất vẫn là bộ mẫu hoa văn được tạo từ những tấm bìa cứng, đục lỗ, mỗi lỗ đục tương ứng với đường đi của một sợi tơ, để sao cho khi dệt lại tạo được đúng những đường nét, bề mặt đã định. Riêng những loại vân cổ song hạc, tứ quý, phải dùng đến hàng trăm tấm bìa và tính toán đục lỗ hàng năm trời mới xong. Chỉ đến khi các con và cháu ông Mão ứng dụng thành công phần mềm vẽ và đục lỗ trên máy vi tính, thao tác tạo mẫu mới trở nên nhẹ nhàng.

Ông Mão bắt đầu nuôi hoài bão phục dựng lụa hàng Vân từ cuối những năm tám mươi thế kỷ trước. Trên những bộ go võng, go xà han rỉ gãy nát qua hai cuộc chiến tranh và những năm hậu chiến lầm lụi đói nghèo. Quá trình lấy lại mẫu vân, dựng lại khung cửi tương thích với quy trình dệt vân cũng chính là lúc ông đồng thời ứng dụng những sáng tạo riêng và kỹ thuật của ngày hôm nay.

Bộ mẫu vân đầu tiên mà ông Mão phục dựng, với sự hỗ trợ của các cụ già ở làng, chính là bộ mẫu vân chữ triện được ông tự tay vẽ và thiết kế lại từ tấm áo dài thuở còn thanh xuân của một lão bà hiến tặng, năm nay cụ đã trên trăm tuổi. Chiếc áo vân cổ, vật chứng quý giá của văn hóa và kỹ nghệ trải trăm năm đã được ông Mão tặng lại cho bảo tàng Phụ Nữ Việt Nam.

Hồn cốt quyền quý

Liệu có gì chung giữa tấm lụa hàng Vân mang những đợt hoa văn ẩn hiện man mác hồn xưa cũ, với thứ lụa cũng 100% tơ tằm nhưng được dệt bằng công nghệ hiện đại? Cái chung của cả hai khuynh hướng mà ông Mão đã dốc lòng để đạt tới chính là cái không giới hạn của sự tài khéo, cái mở ngỏ vô tận, đa hướng trong tạo lập những đỉnh cao của nghề nghiệp. Với lụa, điều gì chỉ dừng ở mức độ thường thường, nhàn nhạt, “hàng chợ”, lập tức sẽ bị quên lãng ngay khi nó vẫn còn đang tồn tại trên đời. Từ góc độ này, nghề dệt lụa hàng Vân, hay nói chung là nghề dệt lụa, có thể và cần được xem gần như là một nghệ thuật của sáng tạo và đam mê đích thực.


Lụa hàng Vân đã làm nên cái hồn cốt quyền quý của văn hóa Việt

Tương truyền, từ đời Thái thú Cao Biền, có bà Lã Thị Nga là con gái làng Vạn Phúc đem nghề ươm tơ dệt lụa truyền dạy cho người dân, được suy tôn là Thần hoàng và bà tổ của làng nghề dệt lụa lâu đời vào loại nhất nước Việt. Sau này, nguyên phi Ỷ Lan, công chúa Huyền Trân là những bậc anh thư đã làm rạng danh nghề lụa Việt sang tận các nước lân bang. Nhưng chiếc go võng dệt lụa Vân và sau này, dành cho loại hàng cao cấp hơn là gấm, mới chỉ được phát tích vào đầu thế kỷ thứ XVI. Trong cả nước cũng chỉ có duy nhất làng Vạn Phúc là dệt được lụa hàng Vân. Lụa hàng Vân từng tham gia đấu xảo ở Paris, Marseille những năm ba mươi thế kỷ trước. Tấm lụa Vân “Lưỡng long chầu nguyệt” dệt theo chiều dọc dài đến hai mươi mét hình đôi rồng chầu mặt nguyệt cân xứng, theo mẫu tạo canh sợi từ đuôi đến đầu rồng, mặt nguyệt, rồi lại từ đầu tới đuôi con rồng thứ hai, đến ngày nay vẫn được nhắc tới như một kỳ tích của người nghệ sĩ dệt Vân.

Nghề dệt Vân từng đạt tới tuyệt kỹ và tuyệt mỹ vào nửa cuối thế kỷ mười bảy. Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn có ghi, thời ấy đàn ông chép sách bình văn, mở mang thủy lợi, đồng áng, rèn đúc tiền tệ, khí giới... đàn bà tằm tang canh cửi. Đặc biệt tổng Hà Đông, trấn Sơn Tây có lụa hàng Vân là thứ phục trang cho con nhà quyền quý, làm lụa phong lưu ba bốn đời.

Nhưng, tôi vẫn muốn tin vào câu chuyện, đời Lê mạt có ông đại thần đầu triều để ngỏ việc quan, treo mũ ô sa tìm về chốn ruộng vườn. Từ trái tim nồng nhiệt và tâm hồn nghệ sĩ của ông, những mẫu vân tinh túy nhất được vẽ nên và được tượng hình trên mặt vải bởi đôi bàn tay tuyệt khéo. Liệu có ai như ông, trốn vào cái vô biên của kỹ nghệ mà tạm quên nguôi những đau đớn ở đời? 

Cho đến bây giờ, bài thơ hay nhất về lụa là do một người thơ mà ở thời điểm tác phẩm ra đời, có lẽ lụa chỉ còn là “một thời vang bóng”, một chút dư hương vương vấn trong ký ức:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

(thơ Nguyên Sa)

Câu thơ có ý nghĩa như một bài thơ hoàn chỉnh. Lụa Hà Đông hay tấm lụa Vân chỉ có duy nhất ở làng quê Vạn Phúc, từng làm nên biểu tượng văn hóa của tâm hồn Việt trải nghìn năm, vượt lên những cách chia của đạn bom và ngộ nhận...

Hoàng Cầm, những ngày đau nhói vì quê hương trong tầm đạn giặc vẫn mượn màu lụa như một tín hiệu của sự yêu thương vỗ về có thực, như giao ước về một niềm tín nghĩa không suy suyển:

Ai về sông Đuống

Cho ta gửi tấm the đen

...

Càng ngày, tôi càng thấm hiểu, không phải người nào, thời nào cũng có duyên làm lụa. Ngay cả bậc kỳ tài như ông Mão cũng đành xếp lại tâm nguyện dệt gấm sang một bên lòng. Hưng vong là lẽ của một quốc gia nhưng lụa, như tiếng thổn thức tự đáy hồn dân tộc, tôi tin là vẫn da diết níu gọi người ta sống đạo người đẹp hơn và ngay thẳng hơn...

Khánh  Phương

 
Chia sẻ với bạn bè qua: